Lão Hòa Thượng Hải Hiền 112 tuổi tự tại Vãng Sinh

Chương 18: Cúng Dường A La Hán

trước
tiếp

Một hôm, một cư sĩ trẻ tuổi dẫn theo hai người bạn của anh ấy đi thăm lão Hòa thượng Hải Hiền, lúc bấy giờ Ngài đang ở trước sân chùa đào một gốc cây rất to, dưới đất đã được Ngài đào một cái hố to rất sâu, chỉ thấy Ngài đang đứng trong hố, khắp người khắp mặt đều là đất sét. Ba người nhìn thấy lão Hòa thượng liền vội vã đảnh lễ lão Hòa thượng, lão Hòa thượng không ngớt lời ngăn cản: “Đừng lạy! Đừng lạy! Dưới đất dơ lắm!”

Người thanh niên và lão Hòa thượng rất thân quen, hai người bạn của anh ấy cũng đã từng sống chung thời gian ngắn ba tháng ở trong chùa Thiên Phật với lão Hòa thượng, cho nên lão Hòa thượng nhìn thấy họ đến, hết sức vui mừng, dừng công việc đang dở dang và bắt đầu nói chuyện với họ.

Ngài nói với người thanh niên rằng: “Người trong làng các con thiện căn sâu, người học Phật nhiều”.

“Dạ phải. Trong thôn tụi con hầu hết nhà nhà đều cúng Phật”.

Lão Hòa thượng hỏi: “Trong làng các con nhiều năm trước có một lão Hòa thượng đã sống con có nhớ hay không?”.

Cư sĩ trả lời: “Con lúc đó vẫn còn nhỏ, nhưng có ấn tượng, bởi vì Pháp sư đó là bà nội con hộ trì mà. Về sau Ngài ấy đi chùa Bạch Mã rồi”.

Lão Hòa thượng nói: “Lúc đó ta mời lão ấy đến chùa Phật Lai, lão ấy không chịu…không biết hiện nay còn sống hay không”.

“Nghe nói đã tạ thế rồi”.

“Khi nào không còn nữa vậy?”.

“Sớm đã không còn nữa, đó đã là việc của thế kỷ trước rồi.” Cư sĩ nói, nhịn không được phá lên cười, trong lòng nghĩ: “Vị Pháp sư đó nếu còn sống, cũng phải hơn 100 tuổi rồi đó, Ngài cho rằng ai cũng giống Ngài trường thọ vậy  sao chứ?”.

Lão Hòa thượng nhìn anh ấy, không hiểu hỏi: “Con cười gì chứ?”

Cư sĩ dường như đang đùa nói với lão Hòa thượng: “Ngài có phải cho rằng Từ Hy Thái hậu vẫn còn sống hay không chứ?”

Lão Hòa thượng cũng bị anh ấy chọc đến cười vang, nói: “Ta vẫn không có hồ đồ như vậy. “Ây da! Ta đây là nghiệp chướng nặng đấy, muốn đi không đi được. Mắt nhìn thấy các lão đồng tu từng người một đều đi rồi, ta thì thành lão yêu tinh rồi đấy”.

Cư sĩ trẻ tuổi vừa dìu lão Hòa thượng từ trong hố cây ra vừa nói: “Ngài nghỉ ngơi tí, rồi kể chuyện cho tụi con nghe, được không?”

Lão Hòa thượng ngồi xuống trên một miếng gỗ, chỉ vào mấy miếng gỗ bên cạnh kêu mọi người cũng ngồi. Hai người trong đó nói không muốn ngồi, lão Hòa thượng bèn nói với hai người họ: “Không muốn ngồi trên miếng gỗ, trong phòng có ghế”. Sau đó bèn cười ha hả nói: “Ta kể cho các con một công án trong kinh Phật, hay lắm đấy!”.

Có một vị A La Hán cầm bình bát ra ngoài, gặp một nữ quỷ, nữ quỷ nói muốn cúng dường La Hán, thì mời Ngài vào trong nhà. La Hán vừa nhìn, ngọc ngà châu báu chói mắt trong nhà nữ quỷ này, hết sức khí phái! Nữ quỷ đem thức ăn uống cúng dường La Hán bày trên bàn, mời La Hán dùng bữa. La Hán cúi đầu xuống, nhìn thấy trên bốn chân bàn buộc bốn con ngạ quỷ đói da bọc xương, cảm thấy rất hiếu kỳ. Lúc này, nữ quỷ nói rằng: “Xin Tôn giả đợi chút, đệ tử có chút việc quan trọng ra ngoài trước một lát, lập tức trở lại ngay. Xin Ngài từ bi, nhất thiết đừng thí thức ăn cho bốn người họ!”.

Nữ quỷ đi ra rồi, La Hán tự mình vừa ăn vừa khó hiểu: “Tại sao không cho thí thức ăn cho bốn người họ chứ?”. Bốn ngạ quỷ mắt chằm chằm trông ngóng La Hán đang ăn ở đó, cũng không dám lên tiếng. La Hán cảm thấy như vậy quá tàn nhẫn rồi, Ngài quả thực chịu không nổi rồi, bèn lấy thức ăn phân một ít cho bốn ngạ quỷ này. Không ngờ rằng bốn ngạ quỷ này đưa thức ăn vào đến trong miệng, mỗi người lại đau khổ kêu gào lồng lộn lên: Thức ăn của một  ngạ quỷ vào trong miệng thì biến thành thịt của chính mình, thức ăn của một ngạ quỷ vào trong miệng thì biến thành viên sắt, thức ăn của một ngạ quỷ vào trong miệng thì biến thành phân, thức ăn của một ngạ quỷ vào trong miệng thì biến thành máu mủ. La Hán nhìn thấy tình cảnh như vậy, rất hoảng hốt.

Nữ quỷ đẹp đẽ kia vội vội vàng vàng từ bên ngoài chạy vào trong phòng, rất đau khổ nói với La Hán: “Lúc con đi ra đã từng dặn dò Ngài nhất định không thể thí thức ăn uống cho họ, tại sao Ngài không nghe chứ? Chẳng lẽ Ngài thương yêu họ hơn cả con sao? Họ là chồng, con, con dâu và a hoàn kiếp trước của con đấy!”.

La Hán không hiểu hỏi: “Đây là nguyên nhân gì vậy?”

Nữ quỷ nói: “Con kiếp trước cúng dường qua một vị A La Hán, con nói chồng con biết, hy vọng anh ta tùy hỷ công đức, ai dè anh ta sau khi nghe ngược lại buông lời phỉ báng nói: “Ông ấy tại sao ăn đồ của chúng ta chứ? Sao không đi ăn thịt chính mình đi?”. Con rất đau lòng, bèn lại đem chuyện này nói với người con trai của con, không ngờ nó cũng mở miệng hủy báng nói: “Ông ấy tại sao không đi ăn viên sắt đi chứ?”. Con càng đau lòng hơn nữa. Bữa đó đúng lúc có thông gia tặng số thức ăn cho con, lại bị con dâu của con trộm ăn hết, con đi hỏi cô ta, cô ta không thừa nhận, còn nói: “Ăn thức ăn của mẹ còn không bằng ăn phân đấy!”. Con tặng thức ăn đáp lễ thông gia, lại bị a hoàn trộm ăn hết trên đường đi, con trách móc cô ta, cô ta không thừa nhận, còn nói: “Ăn thức ăn của bà còn không bằng máu mủ đấy!”.

“Trong tâm con khởi lên lòng sân hận lớn đối với bốn người họ, thế là phát ra một nguyện, nguyện trong cuộc sống kiếp sau ở nơi có thể nhìn thấy bốn người họ thọ ác báo. Cho nên kiếp này con làm đại lực quỷ vương. Nếu không phải ác nguyện này, chỉ dựa vào công đức con cúng dường A La Hán, kiếp này thì con sinh trời Đao Lợi hưởng thọ phúc trời”.

Lão Hòa thượng kể xong câu chuyện, cười ha hả hỏi rằng: “Nghe có hay không?”.

Cư sĩ trẻ tuổi nghe đến rợn tóc gáy. Anh ấy thay đổi ý nghĩ lại: “Lão nhân gia này tuyệt đối không phải là người hồ đồ rồi!” Anh ấy vốn cho rằng lão Hòa thượng chỉ biết lao động, niệm Phật, không chắc hiểu được đạo lý Phật Pháp quá sâu, thế nhưng lần này anh ấy thật sự bội phục lão Hòa thượng rồi.

Lão Hòa thượng nhìn anh ấy đang ngớ người, thì nói tiếp: “Câu chuyện này chính là dạy người ta nói chuyện đừng ngôn sàm khẩu mãn, “năng ngật quá thiên thực, bất thuyết quá thiên thoại”, nói chuyện khẩu mãn khiến cho người ta hận, gây gổ với mọi người. Cũng đừng sinh ý niệm xấu, có ý niệm xấu người chịu thiệt là chính mình”.

“Ngôn sàm khẩu mãn” mà lão Hòa thượng nói là một câu tục ngữ trong phương ngôn của Nam Dương, phần nhiều là các Ngài thích dùng. “Ngôn sàm” chỉ ngôn ngữ chua ngoa cay nghiệt; “khẩu mãn” chỉ nói chuyện cuồng vọng. “Năng ngật quá thiên thực, bất thuyết quá thiên thoại” cũng là tục ngữ người Nam Dương, cũng là dạy người không thể quá cuồng vọng.

“Tùy hỷ” mà nữ quỷ nói, là chỉ tùy thiện nhân tu tập của người khác, hỷ thiện quả người khác đạt được; cũng chính là nói, thấy người khác hành thiện, tâm tùy sinh hoan hỷ. Thích Ca Mâu Ni Phật năm xưa đã từng dùng một ví dụ đơn giản, để cho một đôi phu phụ hiểu được ý nghĩa cúng dường bố thí được quả báo.

Lúc Thích Ca Mâu Ni Phật ở thành Xá Vệ, tinh xá Kỳ Viên giáo hóa, từng tiếp nhận qua một bát cơm của một đôi phu phụ cúng dường. Phật Đà nói với họ:

“Trồng một thu mười, trồng mười thu trăm, trồng trăm thu vạn, các con dùng công đức bố thí một bát cơm này, sẽ thu được phúc báu vô lượng”.

Hai người hoài nghi hỏi rằng: “Phật Đà! Kẻ tầm thường ngu dốt chúng con thật không hiểu được, vẻn vẹn bố thí một bát cơm, có thể có phúc báu bao lớn vậy?”.

Phật Đà giải thích cho họ rằng: “Các con thấy cây Ni Câu Đà không? Một cây sum sê xa đến bốn năm dặm đường, mỗi năm quả của nó rơi xuống có nhiều hơn số vạn đẩu (đẩu: hộc: đơn vị đo dung tích thời xưa, bằng 10 đấu, nay  còn 5 đấu). Lúc đầu, hạt giống cây Ni Câu Đà, cũng chỉ là một hạt quả.

Từ đó, nhân dân thành Xá Vệ, đối với Phật Đà và các vị tỳ kheo đều càng vui vẻ hăng hái cúng dường bố thí.

 


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.
Flag Counter