Phật Giáo tại Nam Triều Tiên

Đăng bởi: admin - lúc: 19:58:46 - 10/09/2020 - tại: Đại Tạng Kinh, Quốc tế
Đọc: 156
Phật Giáo tại Nam Triều Tiên

Thích Nguyên Tạng

Melbourne, Úc Châu 2001




---o0o---


Nam Triều Tiên (South Korea, Nam Hàn) là một quốc gia nằm ở đông bắc châu Á. Diện tích: 99.484 Km2 , dân số: 45.182.000 người. Hàn quốc từng trải qua những chế độ độc tài với những cuộc bạo động xã hội và đàn áp mạnh mẽ. Nhưng tiến trình dân chủ hóa đã được thiết lập vào năm 1988. Hiện tại Nam Triều Tiên (NTT) đã trở thành "một nước công nghiệp hóa mới" (còn được gọi là một trong bốn con rồng châu Á) cùng với Đài loan, Hong Kong và Singapore. Phật giáo là một trong ba tôn giáo chính ở Hàn quốc (Khổng giáo và Ki Tô giáo).


 Phật giáo được truyền vào TT vào thế kỷ thứ 4 Tây lịch. Vào thời điểm này, bán đảo Triều Tiên được chia thành ba nước nhỏ là Cao Ly (Koguryo), Bách Tế (Paekje) và Tần La (Shilla). Phật giáo được giới thiệu lần đầu tiên ở phía bắc nước Cao Ly (nay là Bắc Triều Tiên), và dần dần lan đến Bách Tế, miền Tây nam và cuối cùng được truyền đến nước Tần La, thuộc miền đông nam vào thế kỷ thứ 5. 


* Phật giáo Triều Tiên trong thời Tam Quốc:


Nước Cao Ly ( Koguryo): Vào năm 372 Tây lịch, một tăng sĩ được thỉnh cầu từ Trung Hoa đến nước Cao Ly. Ngài đã mang theo số Kinh và một vài tượng Phật. Phật giáo đã được vua chúa và dân chúng tiếp nhận rất nhanh. 


Nước Bách Tế (Paekje):


Phật giáo được truyền vào nước Bách Tế từ Cao Ly vào năm 384 vào, tại đây vua chúa và quần thần cũng rất mộ đạo. Vua Asin (392-450), đã khuyên bảo quần thần và nhân dân rằng: "Nên tin tưởng vào Pháp Phật để mưu tìm hạnh phúc". Trong triều đại của vua Song ( 523-554), có một tăng sĩ tên là Kyomik, trở về từ Ấn Độ với nhiều bản kinh mới . Ngài được xem là vị Tổ khai sơn của một trong những tông phái phật giáo chính tại Triều Tiên. Đầu năm 530, một số tăng sĩ Triều Tiên đã lên đường đi truyền bá Phật Pháp tại Nhật Bản. Trong chuyến đi này có một vài kiến trúc sư và họa sĩ tháp tùng. Nhờ những người này mà những ngôi chùa ở Nhật bản được xây dựng lên không lâu sau khi họ đặt chân đến Nhật . 


Nước Tần La (Shilla):


Đối với nước Shilla thì Phật pháp phát triển một cách chậm chạp cho đến thời kỳ vua Pháp Hưng (Pophung, 514-540) thì Phật giáo mới được thừa nhận là quốc giáo ( national religion) của Shilla. Vua Chân Hưng (Chihung, 540-575) đặc biệt khuyến khích phát triển Đạo Phật. Trong thời gian trị vì, ông đã cho thành lập Trường Phật Giáo Hwarangdo, tuyển chọn những người trẻ tuổi rồi đào tạo theo nguyên tắc của Phật giáo để ra phục vụ cho nước nhà. Trong thời đại của Shilla, những tác phẩm nghệ thuật Phật giáo có giá trị đã bắt đầu xuất hiện, chẳng hạn như tượng đá Phật Thích Ca ở Kyongju và chùa Hwangnyong đã được xây dựng trong thời kỳ này.




  • Phật giáo Hàn quốc từ thời thống nhất của Tần La đến ngày nay:




- Triều đại Tần La ( 668-935):


Năm 668, Triều đại Tần La đã có công thống nhất đất nước, và PG nhờ vậy mà cũng được thống nhất. Trong suốt triều đại Shilla PG đã tiếp tục phát triển cả về mặt học thuật lẫn văn hóa. Trong thời đại này, nhiều tác phẩm nghệ thuật PG đã xuất hiện, nhiều chùa, tháp, tượng Phật có tính lịch sử cũng đã được tạo dựng. Kinh Hoa Nghiêm ( Avatamsaka Sutra) và Kinh Pháp Hoa ( Saddharmapundarika Sutra) đã bắt đầu được nghiên cứu, trong khi Đức Phật Di Đà (the Buddha of Light) và Bồ Tát Quán Âm (the Bodhisattva of Compassion) được thờ phượng khắp nơi. Đến cuối triều đại Tần La Thiền Tông đã được giới thiệu từ Trung Hoa, và chính trường phái này đã giúp cho PGTT lật qua một trang sử mới.  


- Triều đại Cao Ly ( 935-1392): 


Sau khi triều đại Tần La suy tàn, nhà Cao Ly tiếp nối vào thế kỷ thứ mười. PG tiếp tục là quốc giáo, nhiều vị vua đã phát tâm xây dựng chùa tháp và ủng hộ nhiều mặt cho Chánh Pháp. Tuy nhiên vào thời điểm này có quá nhiều sự tập trung vào lễ nghi và điều này đã tạo ra một tình cảnh không thích hợp cho việc phát triển tâm linh. Trong nỗ lực gạn lọc và tái tạo lãnh vực tu tập tâm linh, nhiều tăng sĩ đã chống lại khuynh hướng lễ nghi này. Một trong ba thiền sư là ngài Nghĩa Định (Ui- chon, 1055-1101), con trai của vua Minh Tôn (Munjong, 1047-1083), người đã mang về cho Triều Tiên  4000 Kinh sách các loại khi ngài còn du học ở Trung Hoa, từ những bộ kinh này mà bộ Đại Tạng Kinh Triều Tiên (Tripitaka Koreana) đã được thành lập vào thế kỷ thứ 11, đây là một trong những thành công rực rỡ của PG dưới triều đại của Koryo. Thiền sư Nghĩa Định cũng được xem là người có công mang hạt giống thiền của tông Thiên Thai về cho TT và thiền phái này đã tạo ra một không khí mới cho PG Triều Tiên thời bấy giờ.


Tiếp đó, thiền sư Tri Nột (Chi-nul, 1158 - 1210), đã trở thành người lãnh đạo cho PG TT. Ngài đã khai sơn chùa Songgwang trên núi Tào Khê (Chogye), đây là một ngôi tổ đình của tông phái thiền hơn 300 năm. Chín tông phái thiền đã được thiền sư Thái Cổ (Tae-go, 1301 - 1382) thống nhất với tên gọi là thiền phái Tào Khê (Chogye), một tông phái chính của PG TT vẫn còn duy trì cho tới ngày hôm nay. 


PG vẫn duy trì và ảnh hưởng mạnh mẽ trong giới trí thức vào cuối triều đại Cao Ly. Khổng giáo được truyền đến bán đảo Triều Tiên cùng thời với PG nhưng không đạt được kết quả như vậy. 


- Triều đại Triều Tiên (Choson , 1392-1910):


Với sự suy sụp của triều đại Cao Ly vào năm 1392, PG cũng theo đó mà đi xuống khi những vị vua của tân triều đại Triều Tiên theo Khổng giáo. Trong thời kỳ này nhiều tăng sĩ PG đã tham gia vào chính sự. Các vua của triều đại này từng có những chiến lược đàn áp PG một cách thẳng tay. Chùa chiền không được xây dựng gần thành phố mà phải xây ở tận nơi rừng sâu núi thẳm, nhiều ngôi chùa đã bị phá hủy, tăng sĩ bị coi rẽ và không được phép đặt chân đến thành phố. Tuy nhiên cũng có một vài vị vua trong triều đại này đã bảo hộ PG và một điều quan trọng là dân chúng vẫn giữ niềm tin đối với Chánh Pháp. 


Đến cuối thế kỷ 16, trong khoảng thời gian Nhật Bản xâm lược Triều Tiên, PG đã trở lại cứu hộ cho đất nước. Ở tuổi 72, thiền sư Tây Sơn (So- san 1520 -1604) và người đệ tử là Tứ Minh Đường (Sa-myong 1544-1610) cùng với 5000 tăng binh ( Buddhist monk soldiers) đã đổ ra chiến trường. Theo sau cuộc chiến bại của Nhật Bản, thiền sư Tứ Minh Đường đã dẫn đầu một phái đoàn tới Nhật Bản vào năm 1604 và ngài đã hoàn tất sứ mạng của mình với một bản hiệp ước hòa bình giữa Nhật và Triều Tiên.


- Từ 1910 - đến nay:


Vào năm 1910 triều đại Triều Tiên đã tàn lụi với sự thôn tính của đế quốc Nhật Bản. Trong thời kỳ thuộc địa, PG đã được thừa nhận và ủng hộ bởi chính quyền Nhật Bản. Tuy nhiên, các tông phái PG bản xứ không được phát triển và tăng sĩ được khuyến khích lấy vợ. Vị trù trì của mỗi chùa phải được bổ nhiệm từ chính quyền. Trong thời kỳ này, nhiều tác phẩm nghệ thuật PG đã bị mang về Nhật Bản. Gần đây, chính quyền TT đã có những cuộc thương thuyết với phía Nhật Bản để đòi lại những bảo vật của Phật Giáo.


Sau cuộc cách mạng 1945, tăng sĩ thanh tịnh của thiền phái Tào Khê đã thay thế cho những tăng sĩ có gia đình để trù trì những ngôi chùa từng bị Nhật Bản chiếm đóng. Trong bốn thập niên qua, nhiều chùa chiền đã được xây dựng trở lại trong thành phố. Có rất nhiều chương trình tu học cho mọi giới trong xã hội. Một nửa dân số TT là Phật Tử. Một số lượng lớn nam nữ Phật Tử TT đã xuất gia và PGTT đã được phục hưng rất nhanh.


- Về các Tông Phái Phật giáo tại Triều Tiên:


Hiện tại ở TT có tất cả là 18 tông phái PG khác nhau xuất phát từ bốn tông phái chính là Thiền tông, Mật tông, Pháp Hoa tông và Hoa Nghiêm tông. Tất cả đều theo truyền thống Phật giáo Mahayana và phần lớn được thành lập vào sau năm 1945.


Trong 18 tông phái trên, nổi bật và có tầm ảnh hưởng sâu rộng nhất là Thiền phái Tào Khê (Tào Khê là một tên gọi khác của Lục tổ Huệ Năng, 638-713) được thiền sư Thái Cổ (1301 - 1382), một tăng sĩ Hàn Quốc nổi tiếng trở về từ Trung Hoa vào năm 1346 và lập nên thiền phái này. Ngài cho rằng thiền là một pháp tu tốt nhất để đạt tới giác ngộ. Những bộ kinh căn bản của thiền phái này là Kinh Bát Nhã, Kinh Kim Cang, Kinh Pháp Bảo Đàn, Kinh Hoa NghiêmẨ có khoảng 1632 ngôi chùa là chi nhánhở khắp trong và ngoài Triều Tiên, và có khoảng 18.000 tăng ni và khoảng 6.000.000 tín đồ qui y theo phái này.


Về mặt giáo dục, hầu hết các ngôi chùa hiện nay đều có xây dựng nhà trẻ và trường tiểu học. Đây là một truyền thống đẹp, bởi vì xưa nay các tăng sĩ Triều Tiên đều đóng vai trò quan trọng trong lãnh vực giáo dục phổ cập. Hiện tại PGTT, có nhiều trường sơ, trung đẳng Phật học và một trường Đại Học PG ở Dong-Guk, trường này có chi nhánh ở Seoul và Kyongju, chỉ đặt biệt dành cho tăng ni học mà thôi.


Về Bộ Đại Tạng Kinh Triều Tiên khắc trên gỗ:


Như đã nói ở trên bộ Đại Tạng Kinh Triều Tiên (ĐTKTT) đã được chuyển ngữ, rồi khắc trên bản gỗ và được bảo trì trong Tàng Kinh Cát tại chùa Kang-Wha vào thế kỷ thứ 11, (chùa này được xây dựng vào năm 1488).


Vào 1817 tàng Kinh cát này còn gọi là Bát Vạn Đại Tạng Kinh đã may mắn thoát khỏi cơn hỏa hoạn . Nhưng rủi thay, số phận của bộ ĐTK này đã bị thiêu rụi bởi ngọn lửa xâm lăng của Mông Cổ. Đến thế kỷ 13 bộ ĐTK mới được khắc trở lại theo chiếu chỉ của vua Kojong ( 1213-1259) và được bảo trì tại chùa Hải Ấn (Haein-sa) thuộc tỉnh Nam Gyeongsang cho đến ngày nay. 


Bộ Đại Tạng Kinh Triều Tiên khắc trên gỗ tại thư viện Chùa Hải Ấn (Haeinsa)


Một vài ghi nhận về quá trình chạm khắc bộ Đại tạng Kinh bằng gỗ này:


Chọn loại gỗ bu-lô trắng rồi đem ngâm dưới nước biển ba năm, sau đó vớt lên phơi khô ba năm, rồi mới sử dụng để khắc chữ. Người ta ghi nhận rằng công trình vĩ đại này chỉ do một nam Phật tử thực hiện ròng rã trong 16 năm để hoàn thành 52.382.960 chữ, gồm 6791 quyển. Vào năm 1995, Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá (UNESCO) đã công nhận Tàng Kinh Các này là di sản văn hoá thế giới.





Toàn cảnh Chùa Hải Ấn


Lời kết:


Nhìn chung từ sau ngày Triều Tiên giành lại nền độc lập, Phật giáo đã đối phó với nhiều thách thức của thế giới hiện đại. Từng bị lãng quên một thời gian dài nơi rừng sâu, nay đã trở lại sinh hoạt nơi thị thành. Thiền phái Tào Khê đã đóng một vai trò trung tâm trong quá trình hoằng dương Chánh Pháp trong suốt chiều dài lịch sử của xứ sở này. 


Ngày nay có rất đông giới trẻ Triều Tiên đã chú ý và tham gia vào các sinh hoạt Phật Pháp như ghi danh theo học các khóa giáo lý, khóa tu thiền ngắn hạn, công tác từ thiện xã hội... Những phát triển của Ni giới gần đây cũng đáng chú ý, người ta tin tưởng rằng Phật giáo Triều Tiên đang trên đà phát triển mạnh và đầy lạc quan ở tương lai./.


(Tổng hợp từ tài liệu: Korean Buddhism Magazine ( Seoul/1997) 


Tài liệu này do phái đoàn Phật Giáo Triều Tiên trao tặng nhân dịp các vị đến Úc tham dự Đại Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới lần thứ 20 được tổ chức tại Sydney, Úc Châu, 1998)





Vài nét về lịch sử Phật giáo Triều Tiên


Phật giáo đến Triều Tiên từ  Trung Quốc vào khoảng  cuối thế kỷ thứ IV. Sự truyền bá và phát triển của Phật giáo đại thể chia làm một số giai đoạn:









Thời kỳ Tam quốc(1)


Phật giáo bắt đầu truyền vào Triều Tiên từ thời Cao Cú Ly (miền Bắc Triều Tiên). Theo Hải Đông cao tăng truyện quyển 1, vào năm thứ 2 triều Cao Cú Ly - Tiểu Thú Lâm Vương (Cao Khâu Phu, 372), Phù Kiên, Tiền Tần Trung Quốc, phái sứ giả và sư Thuận Đạo đưa kinh và tượng Phật qua Cao Ly. Hai năm sau, sư A Đạo, người Đông Tấn, đến Cao Cú Ly. Đến năm thứ 5 (375), Tiểu Thú Lâm Vương xây chùa Y Phất Lan cho A Đạo, chùa Tỉnh Môn cúng dường Thuận Đạo. Đó là những bằng chứng cho sự khởi đầu Phật giáo du nhập Triều Tiên. Vào năm đầu vương triều Chẩm Lưu (384) của Bách Tế(2) (thuộc Tây Nam Bộ), vua đón tiếp Phạn Tăng Ma La Nan Đà đến từ Đông Tấn. Năm sau tại Hán Sơn, Châu Kiến tạo Phật tự, đồng thời độ được 10 người thường dân xuất gia. Phật giáo Tân La(3) (vùng Đông Nam) từ Cao Cú Ly truyền vào dưới thời Nạp Chi vương (417-457), ban đầu bị phản kháng, đến năm Pháp Hưng thứ 15 (528) mới chính thức lưu truyền.


Đến thế kỷ thứ VI, Phật giáo đã truyền bá rộng rãi. Thời kỳ Tùy Đường Trung quốc, các tông phái và giáo lý Đại - Tiểu thừa đã xuất hiện ở Triều Tiên, trong đó tông phái có ảnh hưởng tương đối lớn là Tam Luận tông và Luật tông. Đương thời, dưới sự hỗ trợ tích cực của chính quyền phong kiến Tam quôc (thuộc Triều Tiên), rất nhiều Tăng nhân đến Trung Quốc cầu pháp. Những vị tăng nổi tiếng thời bấy giờ như: Cao Cú Ly có Tăng Lãng đại sư, Nghĩa Uyên, Thực pháp sư, Ấn pháp sư, v.v...; Bách Tế có Khiêm Ích, Huệ Từ, v.v...; Tân La có Vô Tướng, Viên Quang, Từ Tạng Viên Thắng, Huệ Thông, Thắng Thuyên, v.v.... Trong số đó có rất nhiều vị đến Ấn Độ cầu pháp. Khiêm Ích đến Ấn Độ để tham cứu Phạn ngữ và Luật bộ. Lúc về nước, ngài mang theo rất nhiều Phan bản phiên dịch và nghiên cứu, góp phần thúc đẩy Luật tông dưới thời Tam quốc truyền bá nhanh chóng; Huệ Siêu từng giẫm khắp Ngũ Thiên Trúc, trước tác Vãng ngũ Thiên Trúc truyện, chủ yếu giới thiệu về địa lý, giao thông, văn hóa và phong tục tập quán của Ấn Độ và các nước xung quanh, góp phần thúc đẩy sự giao lưu văn hóa Trung - Ấn.



Phật giáo thời kỳ này đã làm chiếc cầu nối cho Phật giáo Trung Quốc truyền vào Nhật Bản. Giữa thế kỷ thứ VI, Thanh Minh vương của Bách Tế tặng Nhật Bản tượng Phật Thích Ca bằng đồng vàng và kinh-luận-phan-cái. Sau đó, Huệ Từ đến Nhật Bản dạy Thái tử Thánh Đức; Huệ Quán đến Nhật và trở thành Tổ khai sáng Tam Luận tông; Thẩm Tường đến Nhật, mở đầu cho sự truyền bá Hoa Nghiêm tông. Thời kỳ Tam quốc, sự lưu truyền của Phật giáo tuy phát triển rộng, nhưng vẫn còn ở giai đoạn truyền bá và giải thích giáo nghĩa.



Thời kỳ vương triều Tân La



Phật giáo Triều Tiên thực sự hung thịnh kể từ khi vương triều Tân La thống nhất Tam quốc. Lúc này, các nhà Phật học trứ danh xuất hiện cùng với những trước tác của họ, như Nguyên Hiểu, Cảnh Hưng, Nghĩa Tướng, Viên Trắc, Thái Hiền, Nghĩa Tịch, Tuyên Chứng, Thắng Trang, v.v… Trong đó, ảnh hưởng mạnh nhất đối với Phật giáo Triều Tiên là Nguyên Hiểu, Nghĩa Tướng và Viên Trắc. Những tác phẩm của họ đã đặt nền tảng lý luận cho Hoa Nghiêm tông và Duy Thức tông mang sắc thái dân tộc Triều Tiên. Thời kỳ này có 4 tông phái chủ yếu:



1
) Niết Bàn tông: do sư Phổ Đức, người Cao Cú Ly, sáng lập tại chùa Cảnh Phúc.

2) Luật tông: do sư Từ Tạng người Tân La sáng lập tại chùa Thông Độ.

3) Hoa Nghiêm tông (Nhất danh Viên dung tông): có 2 phái, một phái do Nguyên Hiểu sáng lập tại chùa Phần Hoàng ở Khánh Châu, còn gọi là Hải Đông tông; phái khác do Nghĩa Tướng sáng lập, sau khi nhận được sự truyền thừa của Trí Nghiêm nhà Đường (Hoa Nghiêm tông). Ngài xây dựng tổ đình tại chùa Phù Thạch, nên còn gọi là Phù Thạch tông.

4) Pháp Tướng tông: do Chân Biểu tuyên luật sư sáng lập tại chùa Kim Sơn, tuyên truyền Du già Duy thức.




Ngoài ra, hệ thống Mật giáo có Thần Ấn tông (hay Văn Đậu Lâu tông) và Tổng Trì tông (hoặc Chân Ngôn tông). Minh Lãng sáng lập Thần Ấn tông vào năm Thiện Đức thứ IV (635). Ngài được truyền thọ các bản dịch của Bạch Thi Lê Mật Đa La(4)  về bí pháp của Thần Ấn tông. Theo lịch sử Mật giáo, tông phái này thuộc Tạp mật trước đây như Thiện Vô Úy, Kim Cang Trí. Người sáng lập ra Tổng Trì tông là Huệ Thông. Ngài sang Trung Quốc thọ ấn quyết về Thiện vô úy, trở thành một phái Mật giáo Thiện vô úy. Huệ Nhật thọ Mật pháp với Huệ Quả ở chùa Thanh Long, thỉnh về nước Đại Nhật kinh, Kim Cang Đảnh kinh, Tô Tất Địa kinh, v.v…; rồi truyền bá rộng rãi Mật giáo ở Tân La. Thành thật học phái, Câu xá học phái cũng được truyền bá ở nhiều nơi. Đầu thế kỷ thứ IX, Thiền tông Trung Quốc bắt đầu truyền vào Triều Tiên. Năm Tuyên Đức thứ 5 (784), Đạo Nghĩa đến Kiền Châu, Tây Đường theo Trí Tạng cầu học tâm pháp. Năm 822, sau khi trở vê nước, ngài truyền bá Đạt ma thiền, mở đầu cho việc truyền bá Nam tông thiền, tuy không được hưng thạnh cho lắm, nhưng trở thành phái Ca Trí Sơn, một trong những hậu lai của Thiền môn cửu sơn. Năm Hưng Đức thứ 3 (828), Hồng Trắc đến Trung Quốc thọ pháp với Trí Tạng, sau về nước truyền bá Thiền pháp tại chùa Thực Tướng, mở ra một phái khác thuộc Thiền môn cửu sơn - Thực Tướng Sơn phái, Thiền tông bắt đầu hưng thịnh. Cuối thời Tân La, Đạo Sằn kết hợp tư tưởng thiện căn công đức của Phật giáo với Âm dương - Ngũ hành của Đạo giáo và thuyết Phong thủy địa lý, khai sáng nên “Kỳ Phúc Phật giáo”mang sắc thái riêng, khiến cho Phật giáo càng thêm thần bí hóa. Lúc này, Giáo-Thiền cạnh tranh với nhau, thế lực Phật giáo dần dần suy yếu.



Thời kỳ vương triều Cao Ly




Cao Ly sau khi thống nhất đất nước, vì thâm tín Phật giáo, Thái tổ Vương Kiến xây Tháp hộ Tăng, Phật giáo lại hưng thịnh. Nghĩa Thiên, vương tử thứ tư của Văn Tông, xuất gia, được phong làm Hựu Thế Tăng thống, đời xưng là Nghĩa Thiên Tăng thống. Vào thời Tuyên Tông năm thứ 2 (1084), ngài đến nước Tống, bái phỏng cao tăng đại đức, học giáo nghĩa Hoa Nghiêm, Thiên Thai, giới pháp và phương pháp thiền. Đến năm Túc Tông thứ 2 (1096), ngài sáng lập Thiên Thai tông của Cao Ly. Thời kỳ đầu của vương triều Cao Ly, học giả Hoa Nghiêm là Quân Như,  Pháp Tôn của Hoa Nghiêm tông Bắc Nhạc (Hy Lãng), dung hòa sự khác biệt với Nam Nhạc (Quán Huệ), cùng Nhân Dụ thủ tòa cùng xướng tông chỉ quy nhất, phát triển mạnh mẽ thành phong trào. Cực kỳ sùng tín Tam bảo, Quang Tông vương không chỉ cho xây chùa Quy Pháp tại Tùng Nhạc, mà còn ha chiếu cho Quân Như làm trú trì.



Đến trung kỳ, thiền môn ngày càng tỏ ra suy yếu. Lúc này có Trí Nột lập ra Hội Trí Huệ, xiển dương tu Thiền. Thế là thiền sư luân lưu xuất hiện, mang phong thái Thiền Tào Khê, phục hưng lại Thiền tông. Trí Nột trở thành Tổ sư phái Thiền Tào Khê. Ngài nghiên cứu Hoa Nghiêm, trước tác Viên đốn thành Phật luận, từ tông điển của Tào Khê tông. Về sau, Thái Cổ Phổ Ngu đến Nguyên thọ pháp với Ốc Thanh Củng, rồi trở về nước thống nhất Thiền môn cửu sơn thành một tông, gọi là Tào Khê tông (hay Thiền Tịch tông). Lúc đó Thiên Thai tông cũng được xem là một phái của Thiền tông, nên Thiền tông Triều Tiên có 2 phái Tào Khê và Thiên Thai. 5 tông của Phật giáo Triều Tiên cũng đổi tên như Viên Dung tông đổi thành Hoa Nghiêm tông, Pháp Tướng tông thành Từ Ân tông, Pháp Tính tông thành Trung Đạo tông, Giới Luật tông thành Nam Sơn tông, Niết Bàn tông thành Thủy Hưng tông. Sau gọi chung là “Ngũ giáo nhị tông”.



Thành tựu nổi bật nhất của Phật giáo thời kỳ này là việc xuất bản Đại tạng kinh. Năm Hiển tông thứ 2 (1010), với khẩu hiệu “Đan Quán Kì Nhương”, Đại tạng kinh khởi khắc (tổng cộng hơn 6.000 quyển) và tạo nên sự kiện mang tính toàn quốc. Trải qua hơn 70 năm, đến năm thời Tuyên Tông vương (1087) thì hoàn thành, được cất giữ tại chùa Phù Nhân, núi Bát Công. Năm Cao Tông thứ 19 (1232), bản kinh bị quân Mông Cổ phá hủy. Đến năm 24 (1237), vua phát nguyện xây lại Đô giám, trải qua 16 năm, khắc thành bản kinh hơn 8 vạn miếng. Cao Ly tạng hoàn thành khoảng 6.780 quyển, hiện lưu giữ tại chùa Hải Ấn, núi Ca Da ở Hàn Quốc. Sau khi hoàn thành sự nghiệp khắc kinh, Nghĩa Thiên đến Tống du sơn ngoạn thủy 14 tháng trời, thu thập kinh điển Phật giáo, trở về nước thiết lập giáo tạng đô giám, khắc in kinh, gọi là Tục tạng kinh của Nghĩa Thiên. Theo Tân biên chư tông giáo tạng mục lục, San hành dự định mục lục, Tục tạng kinh thâu lục nội ngoại Phật điển hơn 1.000 bộ, trên 4.000 quyển, nhưng đại bộ phận đã thất truyền, hiện tại còn sót lại 20 bộ.



Thời kỳ Lý triều




Cuối thế kỷ XIV, Thái tổ Lý Thành Quế thống nhất bán đảo Triều Tiên, lấy quốc hiệu Triều Tiên, cũng gọi là Triều Lý. Chủ trương tôn Nho bài Phật, lúc lên ngôi ông liền đày Tăng lữ vào trong cung cấm. Năm Thế Tổ (Thái Tông) thứ 6, ông ghép ba tông Tào Khê, Thiên Thai va Từ Nam thành Thiền tông; ghép Hoa Nghiêm, Từ Ân, Trung Thần, Thủy Hưng và Nam Sơn thành Giáo tông. Sau đó gom Giáo - Thiền nhị tông lại làm một, chỉ giữ lại một số tự viện. Đến thời Minh Tông (1545-1566), với sự nỗ lực của Thiền sư Phổ Vũ và sự bảo hộ của hoàng hậu Văn Định, Phật giáo Thiền tông có được chút khởi sắc nhưng không bao lâu lại suy yếu. Thời Thành Tông càng ngăn cấm cúng dường Tăng lữ và hủy tượng Phật để làm binh khí. Việc xuất gia bị coi là quốc cấm. Mãi đến “loạn Nhâm Thìn” (1592), tướng Nhật Bản, Phong Thần Tú Cát, dẫn đại quân xâm chiếm Triều Tiên, Tuyên Tổ lánh nạn đến Nghĩa Châu, lúc đó có Thiền sư Thanh Hư Hưu Tịnh soái lĩnh môn đồ và chiêu mộ Tăng binh 5.000 người, cùng quân Minh tác chiến, khôi phục kinh thành, đuổi chạy quân Nhật. Tuyên Tổ sau khi trở về cố đô, sắc hiệu ngài làm Quốc Nhất Đô đại thiền sư. Sau ngài tu tập ở núi Diệu Hương, trước tác Thanh Hư đường tâp 8 quyển, v.v… Đến lúc này, Phật giáo Thiền tông được khôi phục.



Trong khoảng 500 năm thống trị, triều Lý thường dùng chính sách tôn Nho bài Phật, nhưng Phật giáo thời kỳ Tân La - Cao Ly đã thấm sâu trong lòng dân chúng. Từ 1910 đến năm 1945, Triều Tiên bị Nhật Bản thôn tính, Tăng nhân Phật giáo Triều Tiên cũng công khai lấy vợ ăn thịt. Do vậy, giáo đoàn phân thành 2 phái: Tăng độc thân và Tăng lấy vợ.



Sau Thế chiến thứ II, Phật giáo vẫn tiếp tục lưu truyền ở bán đảo Triều Tiên. Bắc Triều Tiên đã từng thành lập Phật giáo Tổng vụ viện, sau đổi thành Phật giáo đồ Trung ương ủy viên hội. Những năm đầu thập kỷ 1950, tu viện phần nhiều bị ngoại bang thiêu đốt. Hiện Phật giao Hàn Quốc phát triển tương đối có kế hoạch hơn trước. 

LÂM TỬ THANH trước tác  Quảng Việt dịch



(1) Tam quốc: bao gồm ba nước Tân La, Bách Tế và Cao Cú Ly (thời này có liên quan mật thiết với Đường triều Trung Quốc).

(2) Bách Tế: một nước cổ nằm ở bán đảo Triều Tiên.

(3) Tân La: một nước cổ nằm ở bán đảo Triều Tiên.

(4) Bạch Thi Lê Mật Đa La: tên gốc là Srimitra, hán dịch là Kiết Hữu, cao tăng xứ Tây Vực (Huệ Quang từ điển Phật học).

Hồi hướng

Nguyện đem công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ, trên đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ ba đường,
nếu có người thấy nghe, đều phát lòng Bồ Đề, hết một báo thân này, sinh qua cõi Cực Lạc.
May the Merit and virtue,accrued from this work, adorn the Buddhas pureland,

Repay the four great kindnesses above, andrelieve the suffering of those on the three paths below,

may those who see or hear of these efforts generates Bodhi Mind, spend their lives devoted to the Buddha Dharma,

the Land of Ultimate Bliss.

Ủng hộ/support us – bằng Paypal

Hoà Thượng Tịnh Không Ân Sư

Tất cả Danh mục

Thư Viện Download

Menu

Flag Counter